Ngày 03 tháng 02 hằng năm là Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một dấu mốc lịch sử vĩ đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài hàng chục năm của dân tộc Việt Nam. Đây là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là sản phẩm của quá trình lựa chọn và sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử.
1. Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng ra đời
Dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, mâu thuẫn dân tộc diễn ra hết sức gay gắt, thúc đẩy hàng loạt phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau liên tiếp nổ ra nhằm tìm con đường giải phóng dân tộc. Tiêu biểu có thể kể đến phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu; phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, hay khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh này đều thất bại vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn và một tổ chức lãnh đạo có khả năng tập hợp sức mạnh toàn dân tộc.
Trong bối cảnh đó, tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước. Năm 1920, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đánh dấu bước ngoặt không chỉ đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người mà còn là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Từ nhận thức rằng muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải có “Đảng cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Người từng bước truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nước, đưa phong trào công nhân chuyển dần từ tự phát lên tự giác, và đưa phong trào yêu nước chuyển dần sang lập trường cộng sản.
Trong giai đoạn này, nhiều tổ chức yêu nước đã ra đời và phát triển, được giác ngộ bởi đồng chí Nguyễn Ái Quốc, như Tổ chức Học sinh Đoàn, Đội Ngô Quyền, Tổng Hội Sinh viên. Nhiều đảng viên, đoàn viên đầu tiên của Đảng và Đoàn Thanh niên Cộng sản Việt Nam xuất thân từ học sinh, sinh viên, tiêu biểu như Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng đã bí mật về nước vào ngày 28/01/1941 để trực tiếp lãnh đạo phong trào, thúc đẩy việc hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công khai nhằm liên kết lực lượng sinh viên yêu nước. Phong trào học sinh các trường trung học cũng phát triển mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc.
Chỉ trong một thời gian ngắn, tại Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập:
- Đông Dương Cộng sản Đảng: Thành lập ngày 17/6/1929 tại Hà Nội.
- An Nam Cộng sản Đảng: Thành lập ngày 15/11/1929 tại Sài Gòn.
- Đông Dương Cộng sản Liên đoàn: Thành lập ngày 1/1/1930 tại Hà Tĩnh.
Sự tồn tại của ba tổ chức này trong cùng một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn, và yêu cầu bức thiết của cách mạng lúc bấy giờ là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo.
2. Hội nghị hợp nhất và sự ra đời của Đảng
Trước tình hình cấp bách đó, Nguyễn Ái Quốc – người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín – đã đáp ứng yêu cầu lịch sử. Dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản ở Việt Nam (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) đã diễn ra tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) từ ngày 03 đến 07 tháng 02 năm 1930.
Tham gia Hội nghị có các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh) và An Nam Cộng sản Đảng (Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm), cùng với Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu Quốc tế Cộng sản (Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn). Đại biểu Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không đến kịp Hội nghị này.
Hội nghị đã đi đến nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị cũng đã thông qua các văn kiện quan trọng như: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, cùng Lời kêu gọi. Ngày 24 tháng 02 năm 1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban đầu, Nguyễn Ái Quốc chỉ định Trịnh Đình Cửu làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời. Đến tháng 10 năm 1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất đã bầu Trần Phú làm Tổng Bí thư đầu tiên. Tên của Đảng cũng được đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương theo yêu cầu của Quốc tế Cộng sản.
3. Ý nghĩa lịch sử và sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03 tháng 02 năm 1930 là một mốc lớn, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm. Đảng ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều này chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, đã xác định cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, phong trào học sinh, sinh viên và tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam đã có những cống hiến xuất sắc và trưởng thành vượt bậc qua các thời kỳ lịch sử cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường sau Cách mạng Tháng Tám 1945: “…Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em…” đã cổ vũ học sinh, sinh viên nước ta thi đua học tập tốt, rèn luyện tốt và tình nguyện chung sức cùng cộng đồng.
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Marx – Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã thay đổi tên gọi nhiều lần để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử:
- Đảng Cộng sản Đông Dương (sau Hội nghị Trung ương tháng 10/1930).
- Đảng Lao động Việt Nam (từ tháng 2/1951).
- Đảng Cộng sản Việt Nam (lấy lại tên từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV vào năm 1976).
Đảng Cộng sản Việt Nam đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất và đặc biệt là Huân chương Hồ Chí Minh, ghi nhận thành tích tổ chức, vận động học sinh, sinh viên thi đua phấn đấu, rèn luyện, cống hiến phục vụ đất nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 03 tháng 02 hằng năm là dịp để toàn Đảng, toàn dân nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, và tiếp tục phấn đấu vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.