24 tiết khí (Hán văn phồn thể: 節氣; Hán văn giản thể: 节气; bính âm: Jiéqì) là một hệ thống lịch truyền thống quan trọng, được sử dụng rộng rãi trong các nền văn minh phương Đông cổ đại như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, và Triều Tiên. Khái niệm này dùng để chỉ vị trí quỹ đạo của Trái Đất xoay quanh Mặt Trời trong một năm. Cụ thể, 24 tiết khí (Chính xác phải là 12 Tiết Khí và 12 Trung Khí) là “24 điểm đặc biệt trên quỹ đạo của Trái Đất xung quanh Mặt Trời, mỗi điểm cách nhau 15°.” (Wikipedia).

Một năm có 12 Trung khí (Xuân phân, Cốc vũ, Tiểu mãn, Hạ chí, Đại thử, Xử thử, Thu phân, Sương giáng, Tiểu tuyết, Đông chí, Đại hàn, Vũ thủy) và 12 Tiết khí (Thanh minh, Lập hạ, Mang chủng, Tiểu thử, Lập thu, Bạch lộ, Hàn Lộ, Lập đông, Đại tuyết, Tiểu hàn, Lập xuân, Kinh trập).

Mục đích chính của việc phân chia này là để “đồng bộ hóa các mùa” (Wikipedia) và “dự báo sự thay đổi về ngày, tháng, năm, sự chuyển giao mùa và sự chuyển giao thời tiết” (24 tiết khí là gì? Cách tính 24 tiết khí trong năm). Hệ thống này có nguồn gốc từ dân tộc Bách Việt và được coi là “nông lịch” (lịch nông nghiệp) vì tính ứng dụng cao trong sản xuất nông nghiệp thời xưa.

Cách tính và Phân loại

24 tiết khí được phân chia dựa trên hai yếu tố chính:

  • Vị trí kinh độ của Mặt Trời: Khi xem lịch tiết khí, mặt phẳng không gian được chia thành 360 độ, và “những ngày mà mặt trời ở các kinh độ sau: 0⁰, 15⁰, 30⁰, … 345⁰ sẽ gọi là tiết khí, tương ứng với 24 tiết.” (24 tiết khí là gì? Cách tính 24 tiết khí trong năm 2025).
  • Quỹ đạo hình elip của Trái Đất: Do quỹ đạo của Trái Đất là hình elip chứ không phải hình tròn tuyệt đối, vận tốc di chuyển của Trái Đất không cố định. Vì vậy, “khoảng cách tính theo thời gian giữa các tiết khí không phải là con số cố định.” (Wikipedia). Khoảng cách giữa hai tiết khí kề nhau thường dao động từ 14 đến 16 ngày, và thời điểm bắt đầu mỗi tiết khí thường được làm tròn vào đầu ngày.

Các tiết khí được chia đều cho 4 mùa (mỗi mùa 6 tiết khí) và còn được phân loại theo các đặc trưng riêng biệt:

  • Biểu thị sự giao chuyển mùa: Lập Xuân, Xuân Phân; Lập Hạ, Hạ Chí; Lập Thu, Thu Phân; Lập Đông, Đông Chí.
  • Biểu thị đặc trưng nổi bật về nhiệt độ: Tiểu Thử, Đại Thử, Xử Thử, Tiểu Hàn, Đại Hàn.
  • Liên quan đến sương, mưa, nước: Vũ Thủy, Cốc Vũ, Bạch Lộ, Hàn Lộ, Sương Giáng, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết.
  • Biểu thị sự thay đổi của sự vật, cảnh sắc: Kinh Trập, Thanh Minh, Tiểu Mãn, Mang Chủng.

Ý nghĩa và Ứng dụng

24 tiết khí có vai trò quan trọng trong nhiều khía cạnh của đời sống:

  • Lập lịch và dự báo thời tiết: Là công cụ chính để lập lịch và dự đoán sự thay đổi của thời tiết, các mùa trong năm. Điều này đặc biệt hữu ích cho nông nghiệp để “lập lịch canh tác theo thời tiết từng mùa” (24 tiết khí là gì? Cách tính 24 tiết khí trong năm 2025).
  • Điều chỉnh chế độ sinh hoạt và sức khỏe: Đặc trưng của mỗi tiết khí biểu thị cho từng mùa, giúp con người điều chỉnh chế độ sinh hoạt phù hợp để duy trì sức khỏe tốt nhất. Y học cổ truyền Trung Quốc đã ứng dụng điều này bằng cách kết hợp các tính chất lạnh, nóng, mát, ấm của thực phẩm với sự phân chia thời tiết theo tiết khí để đạt được sự hài hòa, cân bằng cho cơ thể. Ví dụ, “với mùa đông (tính lạnh), cần dùng tính nóng để điều hòa, nên chú trọng sử dụng thực phẩm vị cay, có tính nóng.” (24 tiết khí của Trung Quốc dùng để làm gì? Cho mục đích gì?).
  • Phong thủy và các hoạt động quan trọng: 24 tiết khí cũng có ý nghĩa trong việc “định ngày tốt, ngày xấu, xem những việc nên làm hay không nên làm theo lịch trình” (24 tiết khí là gì? Cách tính 24 tiết khí trong năm 2025).
  • Quan niệm về tuổi tác: “Trong văn hóa cổ truyền, nhiều người quan niệm Đông chí sẽ sang một tuổi mới. Rất nhiều người thường có tư tưởng Đông chí hoặc qua Đông chí sẽ tính chuyện kết hôn.” (24 tiết khí của Trung Quốc dùng để làm gì? Cho mục đích gì?).

Chi tiết 24 Tiết khí theo mùa

Mỗi mùa có 6 tiết khí, phản ánh sự thay đổi khí hậu và cảnh vật:

Mùa Xuân (Kinh độ Mặt Trời 315° – 30°):

  1. Lập Xuân (4/2-5/2): Khởi đầu mùa xuân, báo hiệu chu kỳ sống mới.
  2. Vũ Thủy (19/2-20/2): Mưa xuân nhỏ li ti, cây cối đâm chồi nảy lộc. Trời quang mây tạnh, gió xuân mang hơi ẩm.
  3. Kinh Trập (6/3-7/3): Sinh vật thức giấc sau mùa đông dài, sâu bọ sinh sôi.
  4. Xuân Phân (21/3-22/3): Giữa mùa xuân, ngày dài hơn đêm, thời tiết ấm dần. Thời điểm lý tưởng để bắt đầu mùa vụ.
  5. Thanh Minh (5/4-6/4): Khí trời thanh khiết, trong sạch, cây cỏ phát triển mạnh. Thời tiết đẹp để đi cúng Thanh minh.
  6. Cốc Vũ (20/4-21/4): Xuất hiện mưa rào lớn, báo hiệu cuối xuân đầu hạ, vạn vật sinh sôi.

Mùa Hạ (Kinh độ Mặt Trời 45° – 120°):

  1. Lập Hạ (6/5-7/5): Mùa hạ bắt đầu, nhiệt độ tăng nhanh, nắng nóng gay gắt, có mưa bão.
  2. Tiểu Mãn (21/5-22/5): “Lũ nhỏ”, mưa mùa hạ và lũ lụt nhỏ. Cây lương thực bắt đầu vào vụ chín.
  3. Mang Chủng (6/6-7/6): Hoa màu được mùa, nông nghiệp phát triển, lúa, ngũ cốc tràn đầy sức sống.
  4. Hạ Chí (21/6-22/6): Giữa mùa hè, nhiệt độ cao, mưa nhiều, cây cối phát triển, ngày dài đêm ngắn. “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối”.
  5. Tiểu Thử (7/7-8/7): Thời điểm oi nóng nhưng chưa phải nóng nhất, có thể đi kèm lũ lụt, sấm sét.
  6. Đại Thử (22/7-23/7): Cuối hè, thời điểm nóng nhất trong năm, khí hậu gay gắt, có bão và áp thấp nhiệt đới.

Mùa Thu (Kinh độ Mặt Trời 135° – 210°):

  1. Lập Thu (8/8-9/8): Mùa thu bắt đầu, kết thúc sự oi ả của mùa hè. Thời tiết mát mẻ, gió hiu hiu.
  2. Xử Thử (23/8-24/8): Kết thúc cái nóng oi bức của mùa hè, khí hậu mát mẻ của mùa thu rõ rệt, có mưa lớn (mưa ngâu).
  3. Bạch Lộ (8/9-9/9): Bắt đầu xuất hiện giọt sương, trời mát mẻ, nắng nhẹ nhàng.
  4. Thu Phân (23/9-24/9): Giữa mùa thu, thời tiết dễ chịu, cây cối bắt đầu thay lá.
  5. Hàn Lộ (8/10-9/10): Bắt đầu xuất hiện lạnh kéo dài, khí hậu dần chuyển lạnh, trời tối sớm hơn.
  6. Sương Giáng (23/10-24/10): Sương rơi nhiều nhất, đặc biệt là sương muối, gây hại cho cây trồng.

Mùa Đông (Kinh độ Mặt Trời 225° – 300°):

  1. Lập Đông (7/11-8/11): Mùa đông bắt đầu, không khí lạnh tràn xuống, nhiệt độ xuống thấp, ngày ngắn đêm dài.
  2. Tiểu Tuyết (22/11-23/11): Bắt đầu có tuyết nhưng ít (ở các vùng có tuyết). Ở Việt Nam, hiện tượng này ít thấy, trừ vùng núi cao.
  3. Đại Tuyết (7/12-8/12): Tuyết rơi nhiều, dày đặc, nhiệt độ cực thấp.
  4. Đông Chí (21/12-22/12): Giữa mùa đông, trời sáng muộn, tối nhanh, nhiệt độ giảm mạnh.
  5. Tiểu Hàn (5/1-6/1): Lạnh vừa phải, có rét đậm nhưng dễ chịu hơn.
  6. Đại Hàn (20/1-21/1): Rất lạnh, nhiệt độ xuống thấp nhất, lạnh thấu xương, ảnh hưởng đến cây cối và vật nuôi. Đây là tiết khí cuối cùng của chu kỳ 24 tiết khí.
Bảng dưới đây liệt kê hai mươi tư tiết khí trong lịch Trung Hoa
Kinh độ Mặt Trời Tiếng Việt Ý nghĩa Ngày dương lịch
315° Lập xuân Bắt đầu mùa xuân 4/2-5/2
330° Vũ thủy Mưa ẩm 19/2-20/2
345° Kinh trập Sâu nở 6/3-7/3
Xuân phân Giữa xuân 21/3-22/3
15° Thanh minh Trời trong sáng 5/4-6/4
30° Cốc vũ Mưa rào 20/4-21/4
45° Lập hạ Bắt đầu mùa hè 6/5-7/5
60° Tiểu mãn Lũ nhỏ, duối vàng 21/5-22/5
75° Mang chủng Chòm sao Tua Rua mọc 6/6-7/6
90° Hạ chí Giữa hè 21/6-22/6
105° Tiểu thử Nóng nhẹ 7/7-8/7
120° Đại thử Nóng oi 22/7-23/7
135° Lập thu Bắt đầu mùa thu 8/8-9/8
150° Xử thử Mưa ngâu 23/8-24/8
165° Bạch lộ Nắng nhạt 8/9-9/9
180° Thu phân Giữa thu 23/9-24/9
195° Hàn lộ Mát mẻ 8/10-9/10
210° Sương giáng Sương mù xuất hiện 23/10-24/10
225° Lập đông Bắt đầu mùa đông 7/11-8/11
240° Tiểu tuyết Tuyết xuất hiện 22/11-23/11
255° Đại tuyết Tuyết dày 7/12-8/12
270° Đông chí Giữa đông 21/12-22/12
285° Tiểu hàn Rét nhẹ 5/1-6/1
300° Đại hàn Rét đậm 20/1-21/1

Xem Lịch Âm Dương Hôm Nay

Bài thơ về 24 tiết khí

Dưới đây là bài thơ về 24 tiết khí được sưu tầm của người Sán Chí. Bài thơ được viết theo phiên âm Sán Chí và được dịch nghĩa cụ thể như dưới đây.

Dân tộc Sán Chí, Cao Lan thuộc Sán Chay sinh sống tập trung ở vùng huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế.  Tính đến năm 2009 toàn tỉnh Bắc Giang chỉ có 24,786 người Sán Chí. Ngôn ngữ chủ yếu của dân tộc này là tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán Tạng).

BẢN PHIÊN ÂM TIẾNG Sán Chí:  Dịch Nghĩa

Chắn nhệt chắn sỉ tạo lẩy vạ

Lắp phặn vạ hại túi túi hong

Tạo lẩy vạ hại túi túi lèng

Nên khong júi chẳn nhện lai cnụi.

 

Nhầy nhệt tùng lện vạ chắn hại

Cành chỉc cnặn phặn cấy jắn lai

Pặt cạc jéng nẹng jặm cnệt lỉu

Sùi chỉ hộ nhặt tặc phòng nẹng

 

Jam nhệt pẹc pôn vạ chắn hại

Cnặn manh cọc hối tốu cnặn phặn

Vặn lẻng nhầy nhặn côu kết ậy

Cnện nên cnặn cằu chải cội trọng

 

Jấy nhệt ném chí vạ chắn hại

Lắp dà jiu mẩu mảo hạy lai

Dặt vồi nọng díu cán sui

Nhầy vồi tạn sặn mảo tặc lai

 

Ngồu nhệt tau lạu vạ chắn hại

Mang chọng dà chí cặp noong cọng

Sổi jắn cấy lai chục pấu mỏi

Dảu jặm sắp nhệt mền jeng phọng

 

Lộc nhệt mảo tạn vạ chắn hại

Jiu sôi noong cọng chắn trặc sậy

Lồu dển cnên cọng thoọng dặt jắn

Tộ tô pai sẳng pốu nẹng trậy

 

Cnặt nhệt lện vạ chảm chảm ha

Lặp cnạu chíc nổi dà iên tai

Sội jắn pốu nẹng cấy nềm tảy

Cnên lẩy hây vạ còng mỏi cnại

 

Pat nhệt jáy jíu vạ chắn hại

Pẹc lồu cnặu phặn nềm trắc nẹng

Sội jắn pốu nẹng cấy nềm tảy

Cnện lẩy chái vạ mùng cau cnăng

 

Cau nhệt cọc vạ chảm chảm hại

Hau lồu jéng phọng nềm sạm ậy

Nẹng dảu dặt jặm joóng dổi tảy

Dặt jặm chính nùng mỏi phộu sậy.

 

Sặp nhệt mui vạ chảm chảm hại

Jiu jệt ậy vạn vồi chến chại

Cẳn cây sạm ậy jạm ngồu cnặt

Nhặn cnên vặn lẻng dảu jặm lai.

Tháng giêng là tháng hoa đào, mận

Lập xuân hoa nở ánh rực hồng

Đào, mận nở hoa sáng rực rỡ

Trăng soi năm tận với tháng cùng.

 

Tháng hai hoa đồng liên nở rộ

Kinh trập, Xuân phân gửi thư­ sang

Bất giác nhớ nàng lòng day dứt

Nào biết ngày nào đ­ược gặp nàng

 

Tháng ba tháng hoa bạch bồn nở

Thanh minh, Cốc vũ tiết sáng trong

Hai ngư­ời cùng cảnh cùng cam kết

Ngàn năm tình cũ vẫn trong lòng

 

Tháng t­ư tháng hoa nam tử nở

Lập hạ, Tiểu mãn trời vắng không

Một vì nhà nông cần có nư­ớc

Hai vì đơn chiếc chẳng yên lòng

 

Tháng năm tháng hoa đẩu l­ưu nở

Mang chủng, Hạ chí việc nhà nông

Thư­ tín gửi đi báo nàng biết

Có tâm tháng mư­ời lại tư­ơng phùng

 

Tháng sáu tháng hoa mẫu đơn nở

Tiểu thử, nhà nông chính vụ cày

Đư­ờng xa ngàn núi thư một lá

Gấp gấp gửi đi báo nàng hay

Tháng bảy hoa sen dần dần nở

Lập thu Chức Nữ xuống đài tiên

Thư­ báo cho nàng hãy nhớ ta

Ngàn dặm chuyển hoa trồng với nàng.

 

Tháng tám tháng hoa tiểu tế nở

Bạch lộ, Thu phân nhớ tới nàng

Thư­ báo cho nàng hãy nhớ ta

Một lòng mong nhớ tới nàng luôn.

 

Tháng chín hoa lúa dần dần nở

Hàn lộ gặp nhau nhớ áo xiêm

Nàng có thật lòng đón ta nhé

Một lòng mong nhớ tới nàng thôi

 

Tháng m­ười hoa mai dần chuyển nở

Tiểu tuyết xoay vòng chuyển theo thời

Xin gửi áo dài ba, năm thư­ớc

Đồn rằng hai đứa th­ương nhau rồi.

Sự khác biệt và ứng dụng tại Việt Nam

Mặc dù hệ thống 24 tiết khí có nguồn gốc từ vùng đồng bằng sông Hoàng Hà của Trung Quốc và phản ánh đặc trưng khí hậu ở đó, nó vẫn được áp dụng rộng rãi ở các nước lân cận như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Tuy nhiên, có những điểm khác biệt đáng lưu ý:

  • Tuyết rơi tại Việt Nam: “Trong khoảng thời gian giữa các tiết khí như Đại tuyết, Tiểu tuyết trên thực tế ở miền bắc Việt Nam không có tuyết rơi.” (Wikipedia), ngoại trừ một số đỉnh núi cao như Fansipan, Mẫu Sơn, và tuyết thường rơi vào khoảng thời gian của Tiểu Hàn-Đại Hàn.
  • Phân định mùa: Theo tiết khí, các mùa ở phương Đông bắt đầu bằng tiết khí có chữ “Lập” (ví dụ: Lập Xuân là bắt đầu mùa xuân). Trong khi đó, ở các nước phương Tây, mùa được phân định bằng các thời điểm điểm phân (equinox) và chí (solstice).

24 tiết khí không chỉ hỗ trợ việc chia lịch theo mùa mà còn là công cụ quan trọng để theo dõi mùa vụ, phục vụ sản xuất nông nghiệp và điều chỉnh các hoạt động đời sống hàng ngày của con người theo quy luật tự nhiên.