Phú Tử Vi của Ma‑Thị Tiên Sinh là một bộ phú luận bằng văn vần (thơ nôm) do một vị túc-nho họ Bùi ở Thanh Hóa biên soạn. Đây là một trong những tác phẩm nổi bật truyền thống trong Tử Vi Đẩu Số, tập trung diễn giải các cách cục sao Tử Vi, phân tích sự kết hợp “thiên thời – địa lợi – nhân hoà” qua từng cung mệnh và các cục bộ phận khác trong lá số.

Phú Tử Vi của Ma‑Thị Tiên Sinh là một trong những tác phẩm quý giá của hệ truyền thống Tử Vi Việt Nam, giàu tính giáo dục, thực chứng và nghệ thuật. Nếu bạn đang nghiên cứu tử vi hoặc muốn hiểu sâu hơn về cách luận số theo phong cách cổ truyền, đây là nguồn rất đáng để tham khảo.

Dưới đây là bài Phú Tử Vi Của Ma Thị Tiên Sinh

  1. Ngôi Tử-Vi đóng vào chốn hãm
  2. Quyền giải hung, thiểu giảm vô uy.
  3. Phủ phùng Không, Sứ tài suy.
  4. (Thiên Phủ ở mệnh, Điền mà ngộ
  5. Thiên Không, Tuần Không, Địa Không)
  6. Chung thân nan bảo, tư-cơ lưu truyền
  7. Mấy người phú quí nan tuyền.
  8. Bởi sao Nhật, Nguyệt chiếu miền Sát-tinh
  9. (Sao Âm, Dương ngộ Riêu, Đà, Kỵ, Không, Kiếp)
  10. Mấy người bất hiển công danh,
  11. Là vì Nhật, Nguyệt đồng lâm Sửu, Mùi.
  12. Song Nhật, Nguyệt hãm bên trong,
  13. Xương, Khúc, chiếu, giáp; hưng long Phúc, Tài.
  14. Mấy người nịch tử, hoả tai,
  15. Phá Liêm gặp Hoả; Riêu ngồi Kỵ, Tham.
  16. Khốc, Hư ngộ hạn mạc đàm
  17. Hạn phùng Không, Kiếp ai làm cho nên.
  18. Phượng, Long, Mão, Dậu đôi người
  19. Vượng thời Kim bảng đề tên ở đầu.
  20. Ân-quang, Thiên-quí, Sửu, Mùi,
  21. Đường mây gặp hội danh cao bảng rồng.
  22. Quan cung mừng được Đào, Hồng
  23. Thiên-di tối kỵ Kiếp, Không Lâm vào.
  24. Công danh đợi tuổi tác cao
  25. Giáp Liêm, giáp Sát, một hào chẳng sai
  26. (Quan lộc giáp Liêm, Thất-sát)
  27. Giáp Bát-toạ, giáp Tam-thai,
  28. Thiếu niên dự được lâu đài nghênh ngang.
  29. Thiên, Nguyệt-đức có Giải-thần.
  30. Cùng là Quan Phúc, một làng trù hung.
  31. Sét cho tường, chốn thuỷ cung
  32. Kỵ tinh lạc hãm. Khoa, Đồng, Kình-dương
  33. (Cung Hợi, Tý gặp các sao kể trên)
  34. Đà đắc địa, Hoả chiếu phương
  35. Linh-tinh hạn gặp tai ương chẳng lành,
  36. Mấy người ít tuổi công danh,
  37. Hồng-loan, Bát-toạ ở mình chẳng sai.
  38. Xét xem phú quí mấy người,
  39. Mệnh vô chính diệu trong ngoài Tam không
  40. (Thiên Không, Địa Không, Tuần Không)
  41. Đẩu-quân kỵ Tử tức cung
  42. Kiếp, Cơ, tật ách phải phòng huyết hư.
  43. Hạn lâm Riêu, Hổ khá lo,
  44. Những loài thú dữ chớ cho đến gần
  45. Vận hành Kỵ, Cự hung thần,
  46. Phải phòng những chốn, giang tân mới lành.
  47. Âm Dương đôi ngả cho minh
  48. Âm tòng âm số, Dương hành dương cung
  49. (Tuổi âm ở cung âm, dương ở dương,
  50. tuổi âm gặp sao âm, dương gặp sao dương)
  51. Hạn hành đại tiểu tương phùng
  52. Cát thời thịnh vượng, hung thời chuân chuyên.
  53. Dương, Đà xâm nhiễu Mệnh viên
  54. Nói hay loạn thuyết những phiền lo tai
  55. Số muộn màng con trai chưa có
  56. Vì Kỵ, Đà len lỏi Tử cung
  57. Ách phùng ác sát trùng xung
  58. Khí Âm lạnh lẽo chẳng trùng khí Dương
  59. Hồng-loan ngộ Kiếp, Không lâm thủ.
  60. Sá chi bàn những lũ yểu vong.
  61. Kỳ, Đà, Thái-tuế, Thân trung
  62. Khỏi nạn lại được thung dung mấy người.
  63. Phượng, Long, giáp Mệnh có tài
  64. Trước sau vinh hiển, ra ngoài nổi danh
  65. Sao Quang, Quí ấy Khoa tinh
  66. Lâm vào Thân, Mệnh cao danh bảng rồng
  67. Ngồi Quí hướng, chẳng phùng Không-Sứ
  68. (Mệnh, Thiên Phủ ở Sửu Mùi giáp Âm, Dương)
  69. Gặp khoa thời, thủ cử chẳng sai
  70. Giáp Nhật, Nguyệt trong ngoài Đồng, Cự
  71. (Mệnh Tham, Vũ ở Sửu Mùi)
  72. Ấy công thành danh toại khá khen
  73. Con em sạ khứ, sạ hoàn
  74. Bởi sao Nhật, Nguyệt hãm ngồi Nô cung
  75. Bệnh lao, đàm thấp chẳng thông,
  76. Bởi vì Tật ách, đã phùng Kiếp, Cơ.
  77. Kiếp, Không hai gã khá lo
  78. Lâm vào Huynh đệ cô đơn một mình.
  79. Mẹ cha có phúc lành thượng thọ
  80. Phụ mẫu cung phải có Thiên-lương
  81. Cung Thê thiếp Đồng, Lương hội đó
  82. Hai vợ cùng, một tổ sinh ra
  83. (Hai chị em lấy một chồng, hoặc 2 người vợ cùng họ)
  84. Sao Thai mà ngộ Đào-hoa
  85. Tiền dâm hậu thú, mấy ra vợ chồng.
  86. Mệnh viên gặp Kiếp, Không lâm thủ
  87. Kể chi bàn những lũ yểu vong
  88. Ấn mang, vị liệt Công Hầu
  89. Sao lành Tướng, Cáo hội vào Mệnh cung
  90. Làng có giếng bỏ hoang chẳng uống
  91. Sao Mộc tinh, đóng ở Tật cung
  92. Nhật phùng hãm ngộ lưỡng Long
  93. Có người phương ý, vẫy vùng không lên
  94. (Nhật, Long-trì, Thanh-long ở cung Điền, Nô… có
  95. người chết đuối ở đấy)
  96. Long-trì, Địa-kiếp cũng chen (Cung Điền)
  97. Giếng bồi ao lấp, ở bên nhà này
  98. Thiên-cơ ngộ Hoả chẳng hay
  99. (Điền có Cơ ngộ Hoả nhà bị cháy)
  100. Phùng Không, Kiếp Mộc nỡ đầy quải lưu
  101. (có Cơ cùng các sao trên có ma mộc)
  102. Ngộ Hổ có thạch khuyển chiều
  103. Ngộ Dương, Đà có thạch đầu dựng cao
  104. (Hổ có chó đá gặp Dương, Đà chó đá chôn
  105. dưới đất lâu ngày thành tinh)
  106. Cái răng Bạch-hổ phù soi
  107. Lai gia Tang, Điếu thương ôi nàng tuyền (vợ chết)
  108. Tang-môn ngộ Hoả xấu sao
  109. Nó vào phương nào, phương ấy hoả tai
  110. Bệnh-phù ngộ Thiên-hình vô lợi
  111. Ắt có người chịu tật phong sang
  112. Phụ, Vi, ở Phúc-đức cung,
  113. Phản phu có kẻ, họ hàng chẳng không.
  114. Đào, Hồng, Sát, Phá, Tham, Liêm,
  115. Lâm vào số gái chỉ hiềm sát phu
  116. Tang, Đào ở Mệnh cung sau trước (hợp mệnh)
  117. Gái đã đành lỡ bước cầu ô
  118. Ngọc trầm có vết đen tô (chỗ hiểm có nốt ruồi)
  119. Thiên-khôi tại Tý, thủ đầu Mệnh Thân
  120. Nhật, Nguyệt ngộ Đà tinh chốn hãm
  121. Hoá-kỵ gia, mục ám bất minh,
  122. Việt, Linh lại có Thiên-hình
  123. Địa phương ắt cũng đã đành lôi kinh (sét đánh)
  124. Ngộ Cơ, Lương, đánh gẫy cành
  125. Ngộ Âm, Dương ấy đã đành tan không
  126. Hình, Riêu, Mệnh gái long đong
  127. Ví chẳng lộn chồng, ắt cũng phản phu
  128. Sao Kỵ, Đà hội Phu cung
  129. Hại chồng chước quỉ, tính đường tinh ma
  130. Riêu, Đào số gái ai hay
  131. Chồng ra cửa trước, giắt tay trai vào
  132. Ngộ Hình, gặp Quí dám đâu (đứng đắn)
  133. Cùng là Tử, Phủ một mầu chính chuyên
  134. Ghen đâu mà chẳng biết chồn
  135. Tham cư vượng địa, phải nên đề phòng (hay ghen chồng)
  136. Lỗ tai điếc lác lo phiền
  137. Dương, Đà, Không, Kiếp, Cự miền Mệnh cung.
  138. Miệng ấp úng nói không ra tiếng
  139. Vì Tuế, Đà, Riêu, Cái Mệnh viên
  140. Âm, Dương, Tuần, Triệt tại tiền
  141. Mẹ cha ắt đã chơi tiên thuở nào.
  142. Phúc-đức ngộ Tang, Đào, Hồng, Hỷ
  143. Họ hàng thường có kẻ yểu phu
  144. Lưu Tang, lưu Mã gặp nhau
  145. Hạn cùng năm ấy Bò Trâu chẳng lành
  146. Tham-lang, Bạch-hổ nào sinh
  147. Dần, Tuất chốn ấy, lánh mình sơn lâm
  148. Thai tinh ngộ Thái-âm cung Tử
  149. Con phải vì cầu tự mới nên.
  150. Tử cung Thai, Tướng, Phục-binh
  151. Vợ chồng ắt có tư tình nơi nao (có con riêng mới cưới)
  152. Họ hàng có kẻ binh đao
  153. Tướng, Tuyệt, Tử, Phục lâm vào Phúc cung
  154. Ân-quang phùng Đào, Hồng, Điền-trạch
  155. Ấy cô dì lưu lại ruộng nương
  156. Vợ chồng viễn phối tha hương
  157. Đào, Hồng đóng chỗ vào hàng Thiên di.
  158. Quan-phù, Tấu, Tướng, nghề gì?
  159. Mệnh phùng Tả, Hữu tăng ni kẻo nào.
  160. Hồng-loan, Tấu, Vũ, Hỉ, Đào,
  161. Nhạc phường ca vũ danh vào cửa quan (con hát)
  162. Hình, Cơ, Khúc, Tấu một đoàn,
  163. Trong nghề thợ mộc, khôn ngoan ai tầy.
  164. Khéo nghề kim chỉ vá may
  165. Cơ, Tang, Hồng, Phúc ở rầy Mệnh cung
  166. Hồng-loan ngộ Kỵ, Phu cung
  167. Tơ hồng chưa tắt má hồng đã xui
  168. (vừa bỏ chồng, hoặc chồng chết đã có người mai mối)
  169. Hoả, Linh ngộ hãm Thiên-riêu
  170. Ắt trong mình ấy, có tà chẳng yên.
  171. Phụ, Bật, Khúc, Tướng đồng viên
  172. Ngôi cao chính viện danh truyền y quan.
  173. Phụ, Bật ngộ Thái-âm nhàn (cung Hợi)
  174. Gái làm bà đỡ cứu đàn nhi sinh
  175. Thiên-tài ngộ Nhật bất minh
  176. Nết na lung láo, những khinh phật thần
  177. Tý, Sửu Mệnh; Ngọ, Mùi nhân
  178. Kiểu cư ngộ sứ, chẳng gần bản tông
  179. (ly hương, hoặc dòng họ khác)
  180. Thê cung Kiếp, Không trùng xung
  181. Trải hai, ba độ mấy xong cửa nhà
  182. Tử cung ngộ Kiếp, Không gia
  183. Nuôi con chẳng mát, đã ba bốn lần.
  184. Khốc, Hư lại ngộ Dưỡng thần
  185. Sinh nhiều nuôi ít, gian truân thuở nào
  186. Hiếm hoi bởi ngộ Thiên-hình
  187. Quí tinh trước cửa, đầy sân quế hoè
  188. Không ngộ Phá, Tú Thê hào
  189. Vợ chồng cách trở ba tao mới thành
  190. Triệt, Tuần ngộ Mã, Hình Thê vị
  191. Vợ bỏ chồng đào tị tha phương
  192. Phá phùng Hình, Kỵ Huynh hương
  193. Anh em bất thuận nhiều đường khi tranh
  194. Phá-quân ngộ Hoả, Đà, Dương
  195. Lâm vào Thìn, Tuất nết thường gian phi.
  196. Thiên Hình, Dương-nhận Ngọ vì,
  197. Lại gia Kiếp, Sát ưu nguy hình tù
  198. Riêu, Đà, Dương, Sát cung Phu
  199. Lại thêm Linh, Hoả vợ lo giết chồng.
  200. Hoa-cái, Phượng-các, Đào, Hồng,
  201. Trai toan nể vợ, trong lòng khôn khuây.
  202. Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất
  203. Gái bạc tình, Tham, Sát nhàn cung
  204. Hạn phùng Riêu, Hỷ, Đào, Hồng
  205. Giái, trai mà tưởng trong lòng dâm phong.
  206. Quan-phù, Thái-tuế vận phùng
  207. Tháng ngày chầu trực cửa công bồn chồn.
  208. Cơ, Lương, Thái-tuế, Tang-môn
  209. Lâm vào chốn hãm, cành con chớ trèo
  210. Kỵ, Đà, Sát, Ách liền theo (cung Tật)
  211. Qua sông vượt bể ba đào chớ đi.
  212. Tướng hãm phùng Không, Kiếp vì,
  213. Làm quan thời chẳng cách quan mà về,
  214. Phù, Hình, Không, Kiếp khả chê
  215. Kẻ thù người ghét, toan bề nghịch hung.
  216. Thai tinh, Long (Thanh Long), Hỉ vận này
  217. Vợ thời thai dựng đến ngày khai hoa.
  218. Kình-dương, Hoa-cái ngộ Đà
  219. Hạn hành năm ấy, đậu hoa phải phòng (lên đậu)
  220. Phục-binh, Tuế, Kỵ, Kiếp, Không
  221. Cùng người tranh cạnh, trong lòng chẳng nguôi.
  222. Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Văn, Khôi,
  223. Công danh thành toại đến hồi hiển vinh.
  224. Khốc, Hư ngộ Tang chẳng lành
  225. Thương người bại của chẳng yên được nào.
  226. Kiếp, Hư, Hình, Kỵ, Đà, Dương,
  227. Gian nguy tật bệnh, dở dang ngại dần
  228. Vận phùng Lộc, Mã cùng lưu
  229. Dương, Đà, Kỵ, Nhật mắt đau phải phòng
  230. Ngại hiềm Mã ngộ Không vong
  231. Giặp sao Tả, Hữu hạn phùng cả đôi.
  232. Hoả, Linh, Trì, Mộc, cùng soi
  233. Lánh mình lửa cháy, nước sôi phải phòng
  234. Hổ, Đà, Kỵ, Nhận tân toan
  235. Đề phòng chó dại, hầm thiên dậy loàn.
  236. Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Quả, Loan
  237. Hôn nhân vận ấy, ứng hoàn thất gia
  238. Dương, Phục, Vũ ở toà Ngọ vị
  239. Vận gặp thời, chức trị Quản binh.
  240. Dậu cung Thái-tuế, Thiên-hình
  241. Tai sinh hoạ chí, dị sinh gông cùm.
  242. Quan, Không, trùng kiếm, Võ, Tham
  243. Đường mây thuở ấy đã cam bôn trì
  244. Khốc, Hư ở Tý, Ngọ vì,
  245. Quan cung lại gặp tiếng thời đồn xa.
  246. Dần, Thân, Kỵ, Sát(Kiếp-sát) trùng gia,
  247. Thương chiêu đã nhục, thực là gian nan.
  248. Vợ giầu của cải muôn vàn,
  249. Thái-âm ngộ Đức, Ân-quang, Mã, Đồng.
  250. Thiên-hình, Sát, Hổ Tử cung,
  251. Đến già chẳng thấy tay bồng con thơ.
  252. Sinh cong điếc lác ngẩn ngơ,
  253. Tử cung, đối chiếu Sát, Đà, Kiếp, Không.
  254. Cơ, Lương, Lộc, Mã đồng cung
  255. Phú gia địch quốc của dùng siết đâu.
  256. Ngôi cao đức trọng công hầu
  257. Mệnh phùng Quyền, Sát ở đầu Ngọ cung.
  258. Hình lâm Quan lộc cư Đồng (Dần, Mão)
  259. Quản binh dẫn chức ân hồng quân vương.
  260. Quan cao chấn ngự biên cương
  261. Ngọ cung kiến Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng
  262. Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng
  263. Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
  264. Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù trì
  265. Sân rồng kéo bảng, danh đề ở cao.
  266. Kỵ gia ở cửa màn đào (cung Tý)
  267. Làm nghề thuật sĩ, phong lưu nuôi mình.
  268. Thê, Nguyệt-đức ngộ Đào tinh,
  269. Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang.
  270. Trong ngoài mà có Âm Dương
  271. Ba lần danh dự một làng quan giai.
  272. Khôi, Việt, Quyền gia trong ngoài
  273. Trưởng nam, trưởng nữ gái trai đồng lần.
  274. Mệnh Hoá-kỵ, tật Mộc thần
  275. Âm ti, nang thấp, nhiều phần chẳng sai.
  276. Lộc, Quyền nhờ bạn tri âm,
  277. Lộc, Hồng của vợ, lấy đem làm giầu. (cung Thê)
  278. Sát phùng Phù, Hổ hay đâu,
  279. Dạ Tràng thủa ấy âu sầu ngục trung.
  280. Dương, Đà ngộ Mã tai xung,
  281. Những lo đánh bắc, dẹp đông chẳng rồi.
  282. Thiên Di bầy Mã, Binh ngồi
  283. Đông trì, tây tẩu, pha phôi cõi ngoài.
  284. Kiếp Không lâm vào Phúc Tài
  285. Luận chưng số ấy, linh lai khó hèn
  286. Triệt, Tuần đóng ở cung Điền
  287. Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho.
  288. Kiếp, Không gian phi quanh co,
  289. Đề phòng kẻo phải lộ đồ khảm kha
  290. Hoả-tinh ngộ hãm oan gia
  291. Hiệu là lửa cháy mấy hoà khỏi tai
  292. Đại-hao lâm vào Phúc, Tài
  293. Tán nhiều, tụ ít mấy ai nên giầu
  294. Tử cung Không, Kiếp trùng giao
  295. Bệnh phùng huyết tán thai bào phù hoa
  296. Tật cung Hoá-kỵ cùng gia
  297. Dương, Hư chứng ấy, ắt là hiếm con
  298. Dương, Riêu bệnh ghẻ phong môn
  299. Tuế, Đà loạn thuyết xuất ngôn chiêu nàn
  300. Mệnh Đào, thân lại Hồng-loan
  301. Vận phùng Tuế, Kiếp đả hoàn thê nhi
  302. Hạn lưu Tuế Mệnh một vì
  303. Gặp chưng năm ấy, vận thời gian nan (Lưu Thái tuế vào bản Mệnh)
  304. Tham, Liêm Tị, Hợi chớ bàn
  305. Văn Vương thuở nọ, tân toan ngục tràng
  306. Dần, Thân, Xương hội Tham-lang
  307. Vận ông Quản Trọng phải vào nhà Linh (hạn tù)
  308. Kiếp, Không nhị vị khả ưu
  309. Gặp sao Thiên-giải nhẽ cầu lại yên
  310. Phá phùng Mão, Dậu khá phiền,
  311. Thấy sao Nguyệt-đức tế liền lại qua.
  312. Lao đao sớm tối bơ vơ,
  313. Mệnh cung Cơ, Kỵ hản ra nhị vì.
  314. Long đong đông tẩu, tây trì,
  315. Chẳng qua Thiên-mã Thiên-di hãm nhàn.
  316. Chơi bời du thuỷ, du sơn
  317. Thiên-di gặp Mã hợp chàng Đà-la
  318. Vợ chồng nay giận mai hoà
  319. Phục-binh, Hoá-kỵ một toà thê cung
  320. Khôn giò siết nỗi sâu nông
  321. Sửu, Mùi, Tham, Vũ hội đồng Khúc Xương
  322. Tí cung Thiên-phủ, Kiếp, Dương
  323. Cuồng ngôn loạn ngữ nhiều đường loanh quanh
  324. Thìn, Tuất, Thất-sát một mình
  325. Gia trùng xung hạn, khôn thành hung phương.
  326. Kỵ tinh, Xương, Khúc đồng hương
  327. Nhan Hồi số ấy, nghĩ càng thêm thương (yểu tử)
  328. Bệnh-phù, Thái-tuế rõ ràng
  329. Sửu, Mùi, Thìn, Tuất gặp Lương lại lành
  330. Thiên-đồng cư Ngọ ngộ Kình
  331. Một phương hùng cứ tiếng tăm anh hùng.
  332. Cây Đào mọc ở Nô cung
  333. Vong phu mắc tiếng, bất chung cùng chồng
  334. Phúc cung ngộ hãm Kiếp, Không,
  335. Họ hàng nhiều kẻ hành hung phi loài
  336. Phá quân sao ấy tán tài
  337. Lâm trạch bán hết lưu lai tổ điền.
  338. Tiểu hạn, Cự, Vũ, Hoá-quyền
  339. Chiếu hoa chấn thủ một bên phương ngoài
  340. Mộ phùng Tả, Hữu đồng lai
  341. (hạn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)
  342. Thăng quan tiến chức miếu đài nổi danh
  343. Việt, Khôi, Trì, Các, Văn tinh
  344. Vào thi ắt hẳn bẻ cành quế hoa
  345. Sát phùng Tồn, Tử giải qua,
  346. Một sao Kỵ đóng ắt là tốt tăm.
  347. Thiên-lương ngộ Hoả chiếu lâm
  348. Hại người tổn vật, ầm ầm tai ương.
  349. Hãm tinh gia lại hãm Dương
  350. Chẳng sinh kiện sự, thời thương thung đường
  351. Sứ, Thương, Cơ, Hoả, Cự, Dương
  352. Suy người, hại của nhiều phương ưu phiền
  353. Kiếp, Không, Hao lại gặp Quyền
  354. Nghe rèm liên luỵ, kẻ trên chẳng dùng.
  355. Đại, tiểu ngộ Tham-lang xung
  356. Phá tài, tổn của ắt phùng nhị Hao.
  357. Linh phùng Sát, Phá hạn cao
  358. Vua Văn thủa nọ phải vào ngộ linh
  359. Hổ ngộ Âm miếu cũng xinh
  360. Siêu thiên quan chức, vận lành mừng vui.
  361. Cung Điền liền gặp Cơ, Lương
  362. Mộc lâm tổ nghiệp, đến hồi sinh tại (hoán cải)
  363. Thiện tinh (Cơ) chiếu ở phương Đoài(Thân)
  364. Có người lấy của phật đài hoạ to.
  365. Dương gian gái đẻ phải lo
  366. Kỵ lâm thường thấy tay vo bụng nằm (cung Tật)
  367. Ám tinh (Hoá Kỵ), Tham diệu đồng sâm
  368. Gia trung thất vật gian dâm, loạn tài.
  369. Tham phùng phụ nữ hoài thai
  370. Đẻ rồi, bệnh phải đau rai nửa mình.
  371. Thương người Cơ, Khốc gia lâm,
  372. Hỷ cùng Dương hợp đã sâm người nhà.
  373. Âm nhàn, Đà, Hổ, Tuế gia
  374. Trước sân chợt thất huyên hoa rụng rời (mẹ chết)
  375. Linh tinh, Việt hoả bên đoài,
  376. Gia trung hương hoả kìa ai lạnh lùng
  377. Quý hội hợp vào cung Thân, Dậu (cung Tử)
  378. Đến phật tiên cầu tự mới sinh
  379. Sửu cung đều có Hung tinh
  380. Kẻ đau, người bệnh tại ông Thành Hoàng.
  381. Cấn, Dần, Sửu sao tàng Linh, Hoả
  382. Con hồng tinh biến hoá cành cây (cung Điền)
  383. Long phùng Phượng, Hỷ cung hay
  384. Vui mừng mới thấy, bi ai bỗng liền
  385. Lộc-tồn, Tử cùng Thiên-mã hội
  386. Ngộ Phi thường mừng buổi phong lưu
  387. Kình-dương mà ngộ Thiên-đồng
  388. Gặp Linh thủa ấy phải cầu hôn nhân,
  389. Nhà đều sợ Phá-quân, Hao thủ
  390. Ngộ Tử, Lương, trừ lũ Hung tinh
  391. Việc người sích mích khá không?
  392. Tử-vi, Khôi, Việt ba ông phải tìm.
  393. Hợi, Tý gặp phải hiềm Phật, Thánh
  394. Dậu, Thân lâm tính chốn liên đài
  395. Tử, Tham, Khôi, Việt nam (Ngọ), đoài (Thân)
  396. Long thần cầu đảo bệnh ai lại lành,
  397. Mão, Thìn ngộ đã đành ông Táo
  398. Ly, Tốn, phòng phải Cáo ôn binh
  399. Di cung nếu giáp Quý tinh
  400. Đi qua đến miếu phải kinh ma làm.
  401. Mệnh Thân, Dậu đồng lâm Không, Kiếp.
  402. Gia Triệt, Tuần phải khiếp gian nguy.
  403. Mệnh cung ví có Tử-vi
  404. Tương phùng hạn nhược vận suy chẳng hiềm,
  405. Cung Huynh đệ Triệt, Tuần xung thủ
  406. Chim đầu đàn vỗ cánh bay khơi
  407. Tướng-quân, Lộc, Mã có người,
  408. Giầu sang đảm lược, nên trai anh hùng
  409. Tướng ngộ Đào, Hồng cùng chiếu,
  410. Ngôi màn Đào có ả Thôi Nương
  411. Tràng-sinh, Đế-vượng đa nhân
  412. Giáp chiếu Nhật, Nguyệt có lần sinh đôi,
  413. Đế-vượng ngộ Thai, Khôi, cùng Tướng
  414. Có dị báo hai đám anh em
  415. Thái Âm hiềm có Thiên-cơ
  416. Âm cung mấy Phúc đồng sinh lưỡng bào
  417. Tam Không, gia nội tao cát diệu
  418. Ngộ Dưỡng tinh cũng nẻo con nuôi
  419. Đào-hoa, Thai, Hỷ trong Khôi,
  420. Ngoài ra Binh, Tướng ả vui loang toàng (chửa hoang)
  421. Tướng, Phá, Phục trong làng Thai diệu
  422. Ngoài Đào, Hồng, Hoa-cái Thiên-di
  423. Có người dâm dục thị phi
  424. Tư thông chi dựng kẻ chê người cười
  425. Sao Hình thủ cùng ngwời đánh lộn
  426. Kỵ sinh lâm, lòng vốn bất hoà.
  427. Lộc-tồn, Thiên-mã cùng gia
  428. Có người buôn một, bán ba lên giầu
  429. Vũ, Tướng ở đầu cung ấy
  430. Nghệ bách công ai thấy cũng dùng (anh em làm thợ giỏi)
  431. Tử, Tang, Tả, Hữu hội trung
  432. Có người con gái lộn chồng tìm ra
  433. Sao Xương, Tuế một toà đóng đấy
  434. Thập lý hầu hẳn thấy một hai (anh em tài giỏi)
  435. Việt, Khôi, Khoa mục chẳng sai
  436. Khôi huynh, Việt đệ là bài trong kinh
  437. Triệt, Tuần ngộ Thiên-hình đóng đấy,
  438. Người một phương chẳng thấy họ hàng (anh em lưu lạc)
  439. Kình tinh ngộ Kỵ, Âm, Dương
  440. Ắt trong ***** tật có người hại thê
  441. Cung Thê thiếp, Đào, Hồng tương ngộ
  442. Vợ mấy người đều có dong nhan
  443. Có Riêu, ấy ngoại tình bàn,
  444. Tử, Không ngộ Mã lắm đàn buớm ong (lấy vợ giang hồ)
  445. Mã chẳng gặp Tứ Không ở đó
  446. Thời con nhà vọng tộc lương gia
  447. Phượng, Long đẹp đẽ ai qua,
  448. Hình dong mặt mũi, dỗ hoa tốt vầy.
  449. Tang, Không, Khốc dị sinh hoán cải (duyên số lật đật)
  450. Để di truyền vạn đại về sau.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)