Phú Tử Vi của Ma‑Thị Tiên Sinh là một bộ phú luận bằng văn vần (thơ nôm) do một vị túc-nho họ Bùi ở Thanh Hóa biên soạn. Đây là một trong những tác phẩm nổi bật truyền thống trong Tử Vi Đẩu Số, tập trung diễn giải các cách cục sao Tử Vi, phân tích sự kết hợp “thiên thời – địa lợi – nhân hoà” qua từng cung mệnh và các cục bộ phận khác trong lá số.
Phú Tử Vi của Ma‑Thị Tiên Sinh là một trong những tác phẩm quý giá của hệ truyền thống Tử Vi Việt Nam, giàu tính giáo dục, thực chứng và nghệ thuật. Nếu bạn đang nghiên cứu tử vi hoặc muốn hiểu sâu hơn về cách luận số theo phong cách cổ truyền, đây là nguồn rất đáng để tham khảo.
Dưới đây là bài Phú Tử Vi Của Ma Thị Tiên Sinh
- Ngôi Tử-Vi đóng vào chốn hãm
- Quyền giải hung, thiểu giảm vô uy.
- Phủ phùng Không, Sứ tài suy.
- (Thiên Phủ ở mệnh, Điền mà ngộ
- Thiên Không, Tuần Không, Địa Không)
- Chung thân nan bảo, tư-cơ lưu truyền
- Mấy người phú quí nan tuyền.
- Bởi sao Nhật, Nguyệt chiếu miền Sát-tinh
- (Sao Âm, Dương ngộ Riêu, Đà, Kỵ, Không, Kiếp)
- Mấy người bất hiển công danh,
- Là vì Nhật, Nguyệt đồng lâm Sửu, Mùi.
- Song Nhật, Nguyệt hãm bên trong,
- Xương, Khúc, chiếu, giáp; hưng long Phúc, Tài.
- Mấy người nịch tử, hoả tai,
- Phá Liêm gặp Hoả; Riêu ngồi Kỵ, Tham.
- Khốc, Hư ngộ hạn mạc đàm
- Hạn phùng Không, Kiếp ai làm cho nên.
- Phượng, Long, Mão, Dậu đôi người
- Vượng thời Kim bảng đề tên ở đầu.
- Ân-quang, Thiên-quí, Sửu, Mùi,
- Đường mây gặp hội danh cao bảng rồng.
- Quan cung mừng được Đào, Hồng
- Thiên-di tối kỵ Kiếp, Không Lâm vào.
- Công danh đợi tuổi tác cao
- Giáp Liêm, giáp Sát, một hào chẳng sai
- (Quan lộc giáp Liêm, Thất-sát)
- Giáp Bát-toạ, giáp Tam-thai,
- Thiếu niên dự được lâu đài nghênh ngang.
- Thiên, Nguyệt-đức có Giải-thần.
- Cùng là Quan Phúc, một làng trù hung.
- Sét cho tường, chốn thuỷ cung
- Kỵ tinh lạc hãm. Khoa, Đồng, Kình-dương
- (Cung Hợi, Tý gặp các sao kể trên)
- Đà đắc địa, Hoả chiếu phương
- Linh-tinh hạn gặp tai ương chẳng lành,
- Mấy người ít tuổi công danh,
- Hồng-loan, Bát-toạ ở mình chẳng sai.
- Xét xem phú quí mấy người,
- Mệnh vô chính diệu trong ngoài Tam không
- (Thiên Không, Địa Không, Tuần Không)
- Đẩu-quân kỵ Tử tức cung
- Kiếp, Cơ, tật ách phải phòng huyết hư.
- Hạn lâm Riêu, Hổ khá lo,
- Những loài thú dữ chớ cho đến gần
- Vận hành Kỵ, Cự hung thần,
- Phải phòng những chốn, giang tân mới lành.
- Âm Dương đôi ngả cho minh
- Âm tòng âm số, Dương hành dương cung
- (Tuổi âm ở cung âm, dương ở dương,
- tuổi âm gặp sao âm, dương gặp sao dương)
- Hạn hành đại tiểu tương phùng
- Cát thời thịnh vượng, hung thời chuân chuyên.
- Dương, Đà xâm nhiễu Mệnh viên
- Nói hay loạn thuyết những phiền lo tai
- Số muộn màng con trai chưa có
- Vì Kỵ, Đà len lỏi Tử cung
- Ách phùng ác sát trùng xung
- Khí Âm lạnh lẽo chẳng trùng khí Dương
- Hồng-loan ngộ Kiếp, Không lâm thủ.
- Sá chi bàn những lũ yểu vong.
- Kỳ, Đà, Thái-tuế, Thân trung
- Khỏi nạn lại được thung dung mấy người.
- Phượng, Long, giáp Mệnh có tài
- Trước sau vinh hiển, ra ngoài nổi danh
- Sao Quang, Quí ấy Khoa tinh
- Lâm vào Thân, Mệnh cao danh bảng rồng
- Ngồi Quí hướng, chẳng phùng Không-Sứ
- (Mệnh, Thiên Phủ ở Sửu Mùi giáp Âm, Dương)
- Gặp khoa thời, thủ cử chẳng sai
- Giáp Nhật, Nguyệt trong ngoài Đồng, Cự
- (Mệnh Tham, Vũ ở Sửu Mùi)
- Ấy công thành danh toại khá khen
- Con em sạ khứ, sạ hoàn
- Bởi sao Nhật, Nguyệt hãm ngồi Nô cung
- Bệnh lao, đàm thấp chẳng thông,
- Bởi vì Tật ách, đã phùng Kiếp, Cơ.
- Kiếp, Không hai gã khá lo
- Lâm vào Huynh đệ cô đơn một mình.
- Mẹ cha có phúc lành thượng thọ
- Phụ mẫu cung phải có Thiên-lương
- Cung Thê thiếp Đồng, Lương hội đó
- Hai vợ cùng, một tổ sinh ra
- (Hai chị em lấy một chồng, hoặc 2 người vợ cùng họ)
- Sao Thai mà ngộ Đào-hoa
- Tiền dâm hậu thú, mấy ra vợ chồng.
- Mệnh viên gặp Kiếp, Không lâm thủ
- Kể chi bàn những lũ yểu vong
- Ấn mang, vị liệt Công Hầu
- Sao lành Tướng, Cáo hội vào Mệnh cung
- Làng có giếng bỏ hoang chẳng uống
- Sao Mộc tinh, đóng ở Tật cung
- Nhật phùng hãm ngộ lưỡng Long
- Có người phương ý, vẫy vùng không lên
- (Nhật, Long-trì, Thanh-long ở cung Điền, Nô… có
- người chết đuối ở đấy)
- Long-trì, Địa-kiếp cũng chen (Cung Điền)
- Giếng bồi ao lấp, ở bên nhà này
- Thiên-cơ ngộ Hoả chẳng hay
- (Điền có Cơ ngộ Hoả nhà bị cháy)
- Phùng Không, Kiếp Mộc nỡ đầy quải lưu
- (có Cơ cùng các sao trên có ma mộc)
- Ngộ Hổ có thạch khuyển chiều
- Ngộ Dương, Đà có thạch đầu dựng cao
- (Hổ có chó đá gặp Dương, Đà chó đá chôn
- dưới đất lâu ngày thành tinh)
- Cái răng Bạch-hổ phù soi
- Lai gia Tang, Điếu thương ôi nàng tuyền (vợ chết)
- Tang-môn ngộ Hoả xấu sao
- Nó vào phương nào, phương ấy hoả tai
- Bệnh-phù ngộ Thiên-hình vô lợi
- Ắt có người chịu tật phong sang
- Phụ, Vi, ở Phúc-đức cung,
- Phản phu có kẻ, họ hàng chẳng không.
- Đào, Hồng, Sát, Phá, Tham, Liêm,
- Lâm vào số gái chỉ hiềm sát phu
- Tang, Đào ở Mệnh cung sau trước (hợp mệnh)
- Gái đã đành lỡ bước cầu ô
- Ngọc trầm có vết đen tô (chỗ hiểm có nốt ruồi)
- Thiên-khôi tại Tý, thủ đầu Mệnh Thân
- Nhật, Nguyệt ngộ Đà tinh chốn hãm
- Hoá-kỵ gia, mục ám bất minh,
- Việt, Linh lại có Thiên-hình
- Địa phương ắt cũng đã đành lôi kinh (sét đánh)
- Ngộ Cơ, Lương, đánh gẫy cành
- Ngộ Âm, Dương ấy đã đành tan không
- Hình, Riêu, Mệnh gái long đong
- Ví chẳng lộn chồng, ắt cũng phản phu
- Sao Kỵ, Đà hội Phu cung
- Hại chồng chước quỉ, tính đường tinh ma
- Riêu, Đào số gái ai hay
- Chồng ra cửa trước, giắt tay trai vào
- Ngộ Hình, gặp Quí dám đâu (đứng đắn)
- Cùng là Tử, Phủ một mầu chính chuyên
- Ghen đâu mà chẳng biết chồn
- Tham cư vượng địa, phải nên đề phòng (hay ghen chồng)
- Lỗ tai điếc lác lo phiền
- Dương, Đà, Không, Kiếp, Cự miền Mệnh cung.
- Miệng ấp úng nói không ra tiếng
- Vì Tuế, Đà, Riêu, Cái Mệnh viên
- Âm, Dương, Tuần, Triệt tại tiền
- Mẹ cha ắt đã chơi tiên thuở nào.
- Phúc-đức ngộ Tang, Đào, Hồng, Hỷ
- Họ hàng thường có kẻ yểu phu
- Lưu Tang, lưu Mã gặp nhau
- Hạn cùng năm ấy Bò Trâu chẳng lành
- Tham-lang, Bạch-hổ nào sinh
- Dần, Tuất chốn ấy, lánh mình sơn lâm
- Thai tinh ngộ Thái-âm cung Tử
- Con phải vì cầu tự mới nên.
- Tử cung Thai, Tướng, Phục-binh
- Vợ chồng ắt có tư tình nơi nao (có con riêng mới cưới)
- Họ hàng có kẻ binh đao
- Tướng, Tuyệt, Tử, Phục lâm vào Phúc cung
- Ân-quang phùng Đào, Hồng, Điền-trạch
- Ấy cô dì lưu lại ruộng nương
- Vợ chồng viễn phối tha hương
- Đào, Hồng đóng chỗ vào hàng Thiên di.
- Quan-phù, Tấu, Tướng, nghề gì?
- Mệnh phùng Tả, Hữu tăng ni kẻo nào.
- Hồng-loan, Tấu, Vũ, Hỉ, Đào,
- Nhạc phường ca vũ danh vào cửa quan (con hát)
- Hình, Cơ, Khúc, Tấu một đoàn,
- Trong nghề thợ mộc, khôn ngoan ai tầy.
- Khéo nghề kim chỉ vá may
- Cơ, Tang, Hồng, Phúc ở rầy Mệnh cung
- Hồng-loan ngộ Kỵ, Phu cung
- Tơ hồng chưa tắt má hồng đã xui
- (vừa bỏ chồng, hoặc chồng chết đã có người mai mối)
- Hoả, Linh ngộ hãm Thiên-riêu
- Ắt trong mình ấy, có tà chẳng yên.
- Phụ, Bật, Khúc, Tướng đồng viên
- Ngôi cao chính viện danh truyền y quan.
- Phụ, Bật ngộ Thái-âm nhàn (cung Hợi)
- Gái làm bà đỡ cứu đàn nhi sinh
- Thiên-tài ngộ Nhật bất minh
- Nết na lung láo, những khinh phật thần
- Tý, Sửu Mệnh; Ngọ, Mùi nhân
- Kiểu cư ngộ sứ, chẳng gần bản tông
- (ly hương, hoặc dòng họ khác)
- Thê cung Kiếp, Không trùng xung
- Trải hai, ba độ mấy xong cửa nhà
- Tử cung ngộ Kiếp, Không gia
- Nuôi con chẳng mát, đã ba bốn lần.
- Khốc, Hư lại ngộ Dưỡng thần
- Sinh nhiều nuôi ít, gian truân thuở nào
- Hiếm hoi bởi ngộ Thiên-hình
- Quí tinh trước cửa, đầy sân quế hoè
- Không ngộ Phá, Tú Thê hào
- Vợ chồng cách trở ba tao mới thành
- Triệt, Tuần ngộ Mã, Hình Thê vị
- Vợ bỏ chồng đào tị tha phương
- Phá phùng Hình, Kỵ Huynh hương
- Anh em bất thuận nhiều đường khi tranh
- Phá-quân ngộ Hoả, Đà, Dương
- Lâm vào Thìn, Tuất nết thường gian phi.
- Thiên Hình, Dương-nhận Ngọ vì,
- Lại gia Kiếp, Sát ưu nguy hình tù
- Riêu, Đà, Dương, Sát cung Phu
- Lại thêm Linh, Hoả vợ lo giết chồng.
- Hoa-cái, Phượng-các, Đào, Hồng,
- Trai toan nể vợ, trong lòng khôn khuây.
- Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất
- Gái bạc tình, Tham, Sát nhàn cung
- Hạn phùng Riêu, Hỷ, Đào, Hồng
- Giái, trai mà tưởng trong lòng dâm phong.
- Quan-phù, Thái-tuế vận phùng
- Tháng ngày chầu trực cửa công bồn chồn.
- Cơ, Lương, Thái-tuế, Tang-môn
- Lâm vào chốn hãm, cành con chớ trèo
- Kỵ, Đà, Sát, Ách liền theo (cung Tật)
- Qua sông vượt bể ba đào chớ đi.
- Tướng hãm phùng Không, Kiếp vì,
- Làm quan thời chẳng cách quan mà về,
- Phù, Hình, Không, Kiếp khả chê
- Kẻ thù người ghét, toan bề nghịch hung.
- Thai tinh, Long (Thanh Long), Hỉ vận này
- Vợ thời thai dựng đến ngày khai hoa.
- Kình-dương, Hoa-cái ngộ Đà
- Hạn hành năm ấy, đậu hoa phải phòng (lên đậu)
- Phục-binh, Tuế, Kỵ, Kiếp, Không
- Cùng người tranh cạnh, trong lòng chẳng nguôi.
- Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Văn, Khôi,
- Công danh thành toại đến hồi hiển vinh.
- Khốc, Hư ngộ Tang chẳng lành
- Thương người bại của chẳng yên được nào.
- Kiếp, Hư, Hình, Kỵ, Đà, Dương,
- Gian nguy tật bệnh, dở dang ngại dần
- Vận phùng Lộc, Mã cùng lưu
- Dương, Đà, Kỵ, Nhật mắt đau phải phòng
- Ngại hiềm Mã ngộ Không vong
- Giặp sao Tả, Hữu hạn phùng cả đôi.
- Hoả, Linh, Trì, Mộc, cùng soi
- Lánh mình lửa cháy, nước sôi phải phòng
- Hổ, Đà, Kỵ, Nhận tân toan
- Đề phòng chó dại, hầm thiên dậy loàn.
- Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Quả, Loan
- Hôn nhân vận ấy, ứng hoàn thất gia
- Dương, Phục, Vũ ở toà Ngọ vị
- Vận gặp thời, chức trị Quản binh.
- Dậu cung Thái-tuế, Thiên-hình
- Tai sinh hoạ chí, dị sinh gông cùm.
- Quan, Không, trùng kiếm, Võ, Tham
- Đường mây thuở ấy đã cam bôn trì
- Khốc, Hư ở Tý, Ngọ vì,
- Quan cung lại gặp tiếng thời đồn xa.
- Dần, Thân, Kỵ, Sát(Kiếp-sát) trùng gia,
- Thương chiêu đã nhục, thực là gian nan.
- Vợ giầu của cải muôn vàn,
- Thái-âm ngộ Đức, Ân-quang, Mã, Đồng.
- Thiên-hình, Sát, Hổ Tử cung,
- Đến già chẳng thấy tay bồng con thơ.
- Sinh cong điếc lác ngẩn ngơ,
- Tử cung, đối chiếu Sát, Đà, Kiếp, Không.
- Cơ, Lương, Lộc, Mã đồng cung
- Phú gia địch quốc của dùng siết đâu.
- Ngôi cao đức trọng công hầu
- Mệnh phùng Quyền, Sát ở đầu Ngọ cung.
- Hình lâm Quan lộc cư Đồng (Dần, Mão)
- Quản binh dẫn chức ân hồng quân vương.
- Quan cao chấn ngự biên cương
- Ngọ cung kiến Sát, Tử, Lương, Vũ, Đồng
- Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng
- Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
- Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù trì
- Sân rồng kéo bảng, danh đề ở cao.
- Kỵ gia ở cửa màn đào (cung Tý)
- Làm nghề thuật sĩ, phong lưu nuôi mình.
- Thê, Nguyệt-đức ngộ Đào tinh,
- Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang.
- Trong ngoài mà có Âm Dương
- Ba lần danh dự một làng quan giai.
- Khôi, Việt, Quyền gia trong ngoài
- Trưởng nam, trưởng nữ gái trai đồng lần.
- Mệnh Hoá-kỵ, tật Mộc thần
- Âm ti, nang thấp, nhiều phần chẳng sai.
- Lộc, Quyền nhờ bạn tri âm,
- Lộc, Hồng của vợ, lấy đem làm giầu. (cung Thê)
- Sát phùng Phù, Hổ hay đâu,
- Dạ Tràng thủa ấy âu sầu ngục trung.
- Dương, Đà ngộ Mã tai xung,
- Những lo đánh bắc, dẹp đông chẳng rồi.
- Thiên Di bầy Mã, Binh ngồi
- Đông trì, tây tẩu, pha phôi cõi ngoài.
- Kiếp Không lâm vào Phúc Tài
- Luận chưng số ấy, linh lai khó hèn
- Triệt, Tuần đóng ở cung Điền
- Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho.
- Kiếp, Không gian phi quanh co,
- Đề phòng kẻo phải lộ đồ khảm kha
- Hoả-tinh ngộ hãm oan gia
- Hiệu là lửa cháy mấy hoà khỏi tai
- Đại-hao lâm vào Phúc, Tài
- Tán nhiều, tụ ít mấy ai nên giầu
- Tử cung Không, Kiếp trùng giao
- Bệnh phùng huyết tán thai bào phù hoa
- Tật cung Hoá-kỵ cùng gia
- Dương, Hư chứng ấy, ắt là hiếm con
- Dương, Riêu bệnh ghẻ phong môn
- Tuế, Đà loạn thuyết xuất ngôn chiêu nàn
- Mệnh Đào, thân lại Hồng-loan
- Vận phùng Tuế, Kiếp đả hoàn thê nhi
- Hạn lưu Tuế Mệnh một vì
- Gặp chưng năm ấy, vận thời gian nan (Lưu Thái tuế vào bản Mệnh)
- Tham, Liêm Tị, Hợi chớ bàn
- Văn Vương thuở nọ, tân toan ngục tràng
- Dần, Thân, Xương hội Tham-lang
- Vận ông Quản Trọng phải vào nhà Linh (hạn tù)
- Kiếp, Không nhị vị khả ưu
- Gặp sao Thiên-giải nhẽ cầu lại yên
- Phá phùng Mão, Dậu khá phiền,
- Thấy sao Nguyệt-đức tế liền lại qua.
- Lao đao sớm tối bơ vơ,
- Mệnh cung Cơ, Kỵ hản ra nhị vì.
- Long đong đông tẩu, tây trì,
- Chẳng qua Thiên-mã Thiên-di hãm nhàn.
- Chơi bời du thuỷ, du sơn
- Thiên-di gặp Mã hợp chàng Đà-la
- Vợ chồng nay giận mai hoà
- Phục-binh, Hoá-kỵ một toà thê cung
- Khôn giò siết nỗi sâu nông
- Sửu, Mùi, Tham, Vũ hội đồng Khúc Xương
- Tí cung Thiên-phủ, Kiếp, Dương
- Cuồng ngôn loạn ngữ nhiều đường loanh quanh
- Thìn, Tuất, Thất-sát một mình
- Gia trùng xung hạn, khôn thành hung phương.
- Kỵ tinh, Xương, Khúc đồng hương
- Nhan Hồi số ấy, nghĩ càng thêm thương (yểu tử)
- Bệnh-phù, Thái-tuế rõ ràng
- Sửu, Mùi, Thìn, Tuất gặp Lương lại lành
- Thiên-đồng cư Ngọ ngộ Kình
- Một phương hùng cứ tiếng tăm anh hùng.
- Cây Đào mọc ở Nô cung
- Vong phu mắc tiếng, bất chung cùng chồng
- Phúc cung ngộ hãm Kiếp, Không,
- Họ hàng nhiều kẻ hành hung phi loài
- Phá quân sao ấy tán tài
- Lâm trạch bán hết lưu lai tổ điền.
- Tiểu hạn, Cự, Vũ, Hoá-quyền
- Chiếu hoa chấn thủ một bên phương ngoài
- Mộ phùng Tả, Hữu đồng lai
- (hạn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)
- Thăng quan tiến chức miếu đài nổi danh
- Việt, Khôi, Trì, Các, Văn tinh
- Vào thi ắt hẳn bẻ cành quế hoa
- Sát phùng Tồn, Tử giải qua,
- Một sao Kỵ đóng ắt là tốt tăm.
- Thiên-lương ngộ Hoả chiếu lâm
- Hại người tổn vật, ầm ầm tai ương.
- Hãm tinh gia lại hãm Dương
- Chẳng sinh kiện sự, thời thương thung đường
- Sứ, Thương, Cơ, Hoả, Cự, Dương
- Suy người, hại của nhiều phương ưu phiền
- Kiếp, Không, Hao lại gặp Quyền
- Nghe rèm liên luỵ, kẻ trên chẳng dùng.
- Đại, tiểu ngộ Tham-lang xung
- Phá tài, tổn của ắt phùng nhị Hao.
- Linh phùng Sát, Phá hạn cao
- Vua Văn thủa nọ phải vào ngộ linh
- Hổ ngộ Âm miếu cũng xinh
- Siêu thiên quan chức, vận lành mừng vui.
- Cung Điền liền gặp Cơ, Lương
- Mộc lâm tổ nghiệp, đến hồi sinh tại (hoán cải)
- Thiện tinh (Cơ) chiếu ở phương Đoài(Thân)
- Có người lấy của phật đài hoạ to.
- Dương gian gái đẻ phải lo
- Kỵ lâm thường thấy tay vo bụng nằm (cung Tật)
- Ám tinh (Hoá Kỵ), Tham diệu đồng sâm
- Gia trung thất vật gian dâm, loạn tài.
- Tham phùng phụ nữ hoài thai
- Đẻ rồi, bệnh phải đau rai nửa mình.
- Thương người Cơ, Khốc gia lâm,
- Hỷ cùng Dương hợp đã sâm người nhà.
- Âm nhàn, Đà, Hổ, Tuế gia
- Trước sân chợt thất huyên hoa rụng rời (mẹ chết)
- Linh tinh, Việt hoả bên đoài,
- Gia trung hương hoả kìa ai lạnh lùng
- Quý hội hợp vào cung Thân, Dậu (cung Tử)
- Đến phật tiên cầu tự mới sinh
- Sửu cung đều có Hung tinh
- Kẻ đau, người bệnh tại ông Thành Hoàng.
- Cấn, Dần, Sửu sao tàng Linh, Hoả
- Con hồng tinh biến hoá cành cây (cung Điền)
- Long phùng Phượng, Hỷ cung hay
- Vui mừng mới thấy, bi ai bỗng liền
- Lộc-tồn, Tử cùng Thiên-mã hội
- Ngộ Phi thường mừng buổi phong lưu
- Kình-dương mà ngộ Thiên-đồng
- Gặp Linh thủa ấy phải cầu hôn nhân,
- Nhà đều sợ Phá-quân, Hao thủ
- Ngộ Tử, Lương, trừ lũ Hung tinh
- Việc người sích mích khá không?
- Tử-vi, Khôi, Việt ba ông phải tìm.
- Hợi, Tý gặp phải hiềm Phật, Thánh
- Dậu, Thân lâm tính chốn liên đài
- Tử, Tham, Khôi, Việt nam (Ngọ), đoài (Thân)
- Long thần cầu đảo bệnh ai lại lành,
- Mão, Thìn ngộ đã đành ông Táo
- Ly, Tốn, phòng phải Cáo ôn binh
- Di cung nếu giáp Quý tinh
- Đi qua đến miếu phải kinh ma làm.
- Mệnh Thân, Dậu đồng lâm Không, Kiếp.
- Gia Triệt, Tuần phải khiếp gian nguy.
- Mệnh cung ví có Tử-vi
- Tương phùng hạn nhược vận suy chẳng hiềm,
- Cung Huynh đệ Triệt, Tuần xung thủ
- Chim đầu đàn vỗ cánh bay khơi
- Tướng-quân, Lộc, Mã có người,
- Giầu sang đảm lược, nên trai anh hùng
- Tướng ngộ Đào, Hồng cùng chiếu,
- Ngôi màn Đào có ả Thôi Nương
- Tràng-sinh, Đế-vượng đa nhân
- Giáp chiếu Nhật, Nguyệt có lần sinh đôi,
- Đế-vượng ngộ Thai, Khôi, cùng Tướng
- Có dị báo hai đám anh em
- Thái Âm hiềm có Thiên-cơ
- Âm cung mấy Phúc đồng sinh lưỡng bào
- Tam Không, gia nội tao cát diệu
- Ngộ Dưỡng tinh cũng nẻo con nuôi
- Đào-hoa, Thai, Hỷ trong Khôi,
- Ngoài ra Binh, Tướng ả vui loang toàng (chửa hoang)
- Tướng, Phá, Phục trong làng Thai diệu
- Ngoài Đào, Hồng, Hoa-cái Thiên-di
- Có người dâm dục thị phi
- Tư thông chi dựng kẻ chê người cười
- Sao Hình thủ cùng ngwời đánh lộn
- Kỵ sinh lâm, lòng vốn bất hoà.
- Lộc-tồn, Thiên-mã cùng gia
- Có người buôn một, bán ba lên giầu
- Vũ, Tướng ở đầu cung ấy
- Nghệ bách công ai thấy cũng dùng (anh em làm thợ giỏi)
- Tử, Tang, Tả, Hữu hội trung
- Có người con gái lộn chồng tìm ra
- Sao Xương, Tuế một toà đóng đấy
- Thập lý hầu hẳn thấy một hai (anh em tài giỏi)
- Việt, Khôi, Khoa mục chẳng sai
- Khôi huynh, Việt đệ là bài trong kinh
- Triệt, Tuần ngộ Thiên-hình đóng đấy,
- Người một phương chẳng thấy họ hàng (anh em lưu lạc)
- Kình tinh ngộ Kỵ, Âm, Dương
- Ắt trong ***** tật có người hại thê
- Cung Thê thiếp, Đào, Hồng tương ngộ
- Vợ mấy người đều có dong nhan
- Có Riêu, ấy ngoại tình bàn,
- Tử, Không ngộ Mã lắm đàn buớm ong (lấy vợ giang hồ)
- Mã chẳng gặp Tứ Không ở đó
- Thời con nhà vọng tộc lương gia
- Phượng, Long đẹp đẽ ai qua,
- Hình dong mặt mũi, dỗ hoa tốt vầy.
- Tang, Không, Khốc dị sinh hoán cải (duyên số lật đật)
- Để di truyền vạn đại về sau.
(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)